Wednesday, April 30, 2008

Natalia Bessmertnova - vũ điệu ba lê ma thuật

Không hiểu sao mình lại không đăng cái bài này lên blog - vì khi dịch nó xong đã quá khuya chăng? Hay tại mình buồn quá, khi đời lại mất đi thêm một vẻ đẹp.

Lần mình được xem Natalia Bessmertnova đầu tiên và cũng là nhiều nhất - đó là 19-21/8/1991. Đó là những ngày ГКЧП, khi mà trên kênh truyền hình trung ương của Liên Xô khi đó chỉ toàn là Tin tức thời sự và ... Hồ thiên nga, vở ba lê do Natalia Bessmertnova đóng vai chính.

Và thế là Natalia Bessmertnova trở thành một người tham gia sự kiện bi kịch khi đó ....

Đến nỗi một thời gian rất dài sau đó, các kênh truyền hình ở SNG không dám phát lại bộ phim Hồ thiên nga này ...

Còn mình, mình hồi đó cũng chưa quan tâm tìm hiểu lắm về âm nhạc cũng như ba lê. Mình chỉ thấy Hồ thiên nga rất đẹp. Và đặc biệt là thiên nga trắng - Odetta, một vẻ đẹp trong trắng đến thuần khiết.

Tất nhiên là mãi sau này thì mình mới hiểu được vẻ đẹp của thiên nga đen - Odille, một vẻ đẹp định mệnh. Nhưng thiên nga trắng vẫn quyến rũ, như một ảo ảnh....

Và bây giờ, thiên nga trắng ấy, Natalia Bessmertnova đã vĩnh viễn rời cõi trần...

Cầu cho đôi cánh thiên nga đưa bà đến thiên đường nhé, Natalia Bessmertnova!


Natalia Bessmertnova - vũ điệu ba lê ma thuật



Photo: Frederika Davis, 1963



Nữ diễn viên ba lê Nga lừng danh thế giới, Natalia Bessmertnova đã qua đời ngày 19/2.

Bà đã qua đời tại một bệnh viện Matxcơva, thọ 67 tuổi sau một thời gian dài bệnh nặng.

Bessmertnova đã đi vào lịch sử ba lê trong một chòm sao của các nữ diễn viên xuất sắc, ngang hàng với các huyền thoại Marina Semenova và Galina Ulanova

Natalia Bessmertnova sinh ngày 19/7/1941 ở Matxcơva. Trong gia đình không có ai là nghệ sĩ – cha cô là bác sĩ, còn mẹ làm nội trợ. Tuy nhiên từ sớm cô bé Natasha đã yêu thích múa và quan tâm đến ba lê, chính vì vậy mà vào năm 1953 cha mẹ cô đã gửi cô vào học tại Trường Múa Matxcơva. Năm 1961 sau khi tốt nghiệp Trường Múa thì Natalia Bessmertnova được nhận vào đoàn múa của Nhà hát Lớn, và bà đã làm việc ở đây cho tới năm 1995

Từ những bước đi đầu tiên ở Nhà hát Lớn thì nữ diễn viên ba lê trẻ tuổi đã cho thấy tài năng lãng mạn. Lần ra mắt khán giả chính thức của Bessmertnova là điệu waltz thứ bảy và mazurka trong “Chopiniana” của biên đạo múa M. Fokin, và Bessmertnova cũng đóng vai chính trong vở ba lê hiện đại “Những trang cuộc đời”, nhạc của A.I.Balanchivadze, biên đạo L.M.Lavrovsky. Bạn diễn của Bessmertnova trong vở này là Mikhail Lavrovsky, họ bắt đầu sự nghiệp nghệ thuật đồng thời.

Sau này bạn diễn của Bessmertnova là các vũ công giỏi nhất của Nhà hát Lớn: Aleksandr Lavrenjuk, Yuri Bogatyrev, Yuri Vladimirov, Aleksandr Godunov, Maris Liepa.

Cuộc đời nghệ thuật của Bessmertnova chỉ có thể nói là rất hạnh phúc: trên sân khấu Nhà hát lớn Natalia Bessmertnova đã đóng vai chính trong các vở ba lê cổ điển – “Hồ thiên nga”, “Kẹp hạt dẻ”, “Người đẹp ngủ trong rừng”, “Raymonda”, “Don Kihote”.

Một trong những vai diễn thành công nhất của Natalia Bessmertnova là Giselle trong vở ba lê cùng tên. Nhà hát Lớn có đi lưu diễn ở đâu đi nữa, thì vai diễn này của Bessmertnova luôn đem lại thành công rực rỡ, và nữ diễn viên ba lê đã nhanh chóng trở nên nổi tiếng thế giới. Bessmertnova có hình thức bề ngoài hiếm thấy đối với một nữ diễn viên ba lê lãng mạn: những đường nét hơi kéo dài của cơ thể mềm dẻo, đôi tay duyên dáng và rất biểu cảm. Cùng lúc đó, Bessmertnova vẫn có khả năng diễn tả mềm dẻo thế giới nội tâm các nhân vật trên sân khấu của mình, và cảm thụ tinh tế phong cách của các vở ba lê khác nhau.

Trong những phản hồi đầu tiên về Bessmertnova, người đã được các nhà phê bình để ý từ những vai diễn nhỏ nhất, người ta có thể gặp từ “ma thuật”. Điều này không thể diễn tả bằng lời, nhưng nó cho thấy, trên sân khấu có một “báu vật hiếm thấy”. Bessmertnova có một phong cách lãng mạn bẩm sinh, điều mà không thể học, luyện tập mà có được

Natalia Bessmertnova đóng vai chính trong tất cả các vở kịch Yuri Grigorovich dàn dựng. Đối với ông, bà vừa là vợ, vừa là nàng thơ. Ông đã tạo cho bà vai diễn trong các vở như "Ivan Lôi đế", "Angara", "Romeo và Juliet", "Thế kỷ vàng"

Besstmertnova cũng đóng vai Leili trong vở ba lê “Leili và Medzhnun” của S.Balasanian, biên đạo K.Goleizovsky (1964), Maria trong “Đài phun nước Bakhchisarai” của B.Asafev, biên đạo R.Zakharov, Thiếu nữ trong “Mơ thấy hoa hồng” (Видение розы) của M.Fokin, âm nhạc K.Weber (1967), Juliet trong "Romeo và Juliet" (Bessmertnova đã đóng trong cả hai phiên bản dàn dựng cả của L.Lavrovsky và Yu.Grigorovich), Kitry trong “Don Kihote”, Aurora trong “Người đẹp ngủ trong rừng”.

N.Besstmertnova là người múa vai Juliet đầu tiên trong vở ba lê "Romeo và Juliet" của nhạc sĩ S.Prokofev, Anastasia trong vở “Ivan Lôi đế" âm nhạc cũng của S.Prokofev, do Yu.Grigorovich dàn dựng tại nhà hát Opera ở Paris (1976 và 1978).

N.Besstmertnova đã đóng trong các vở ba lê truyền hình "Romeo và Juliet" (1968), tham gia việc đưa lên màn ảnh các vở ba lê “Giselle” (1975), "Chopiniana" (1977), trong các bộ phim – ba lê "Spartacus" (1976), "Thế kỷ khủng khiếp" ("Грозный век", theo vở ba lê “Ivan Lôi đế”, 1977). Cuộc đời nghệ thuật của N.Besstmertnova được thể hiện trong bộ phim truyền hình “Cuộc đời trong vũ điệu” (1978).

Sau khi rời Nhà hát Lớn, N.Besstmertnova làm huấn luyện viên ba lê (балетмейстер репетитор) trong tất cả các vở kịch mà Yu. Grigorievich dàn dựng tại các thành phố khác nhau ở Nga và các nước khác.

Năm 1995 N.Besstmertnova ký hợp đồng với Trung tâm nghệ thuật biểu diễn Thế giới ở London, theo hợp đồng này bà là giám đốc ba lê của Trung tâm.

Vì những đóng góp vào nghệ thuật múa N.Besstmertnova đã được trao tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân Liên Xô (1976), Giải thưởng Lenin (1986) và Giải thưởng Quốc gia Liên Xô (1977). Bà đã được nhận Giải nhất tại cuộc thi quốc tế các nghệ sĩ ba lê ở Varna (Bungaria, 1965) và giải thưởng Anna Pavlova của Viện Nghệ thuật Múa Paris (1970). Năm 1977 bà được tặng giải thưởng “David” (thành phố Taormina, Italy).

Natalia Bessmertnova qua đời ngày 19/2/2008 ở Matxcơva.

Monday, February 4, 2008

“Manchester et Liverpool” nhưng không phải bóng đá ...

“Manchester et Liverpool” - Песня прощения

Marie Laforêt (tên thật là Maïténa Doumenach) là một nữ diễn viên và ca sĩ Pháp nổi tiếng. Cô xuất hiện lần đầu trên màn ảnh năm 1960 trong bộ phim "Plein Soleil" bên cạnh Alain Delon và ngay lập tức trở thành nổi tiếng. Sau đó, cô tham gia bộ phim La Fille aux Yeux d'Or (The Girl with the Golden Eyes), dựa theo tiểu thuyết của Balzac, và tên bộ phim này đã trở thành biệt danh của cô.


Marie Laforêt, the "girl with the golden eyes." Ảnh: wikipedia

Trong bộ phim thứ hai của mình, Saint Tropez Blues, Marie Laforêt đã thể hiện bài hát cùng tên và bắt đầu phát hành đĩa đơn. Bài hit đầu tiên của cô là Les Vendanges de l'Amour năm 1963.

Marie Laforêt được người Nga biết đến trước hết vì bài hát “Manchester et Liverpool”, giai điệu của bài hát này đã đi cùng phần dự báo thời tiết của chương trình "Vremia" của truyền hình Liên Xô trong nhiều năm.

Năm 1966 thành phố buồn bã Manchester bỗng trở nên nổi tiếng trong số các ca sĩ Pháp. Cô ca sĩ xinh đẹp Marie Laforêt thì hát về sương mù, những cơn mưa của Manchester và về tình yêu đã biến mất (lời bài hát của Eddy Marnai).

Còn ca sĩ Mouloudji thì lặp lại cô, như một tiếng vọng

“I come back in Manchester,
la plus vilaine ville de la terre,
revoir la plus belle fille d’Angleterre.”

("Tôi trở lại Manchester,
thành phố tồi tệ nhất trái đất,
để gặp cô gái đẹp nhất nước Anh")

(đoạn này chưa kiểm tra được độ chính xác)

Manchester et Liverpool
André Popp, Eddy Marnai

Manchester et Liverpool
Je me revois flânant le long des rues
Au milieu de cette foule
Parmi ces milliers d’inconnus
Manchester et Liverpool
Je m’en allais dans tous les coins perdus
En cherchant ce bel amour
Que près de toi j’avais connu

Je t’aime, je t’aime
Que j’aime ta voix
Qui me disait:
“Je t’aime, je t’aime”
Et moi j’y croyais tant et plus

Manchester est d’humeur triste
Liverpool vient pleurer sur la mer
Je ne sais plus si j’existe
Les bateaux blancs craignent l’hiver
Manchester est sous la pluie
Et Liverpool ne se retrouve plus
Dans la brume d’aujourd’hui
L’amour lui aussi s’est perdu

Je t’aime, je t’aime
J’écoute ta voix
Qui me disait:
“Je t’aime, je t’aime”
Et je n’y croirai jamais plus

Download bài hát này do Marie Laforêt hát ở đây
http://www.tonnel.ru/music/pesni/828849037_tonnel.mp3

Có tới mấy lời Nga cho bài hát trên. Tuy nhiên có lẽ nổi tiếng nhất là lời do nhà thơ Robert Rozhdestvensky viết.

Песня прощения

Стихи Роберта Рождественского

Исполнитель: Муслим Магомаев:

Link download
http://www.france-chanson.com/muz/Ma...roscheniya.mp3

Я прошу тебя простить
Как будто птицу в небо отпустить
Я прошу тебя простить
Сегодня раз и навсегда
Я люблю сказал мне ты
И это слышали в саду цветы
Я прощу а вдруг цветы
Простить не смогут никогда

Припев:
А память священна как отблеск высокого огня
Прощенья прощенья теперь проси не у меня

Я могу тебя простить
Как будто песню в небо отпустить
Я могу тебя простить
Сегодня раз и навсегда
Ты вчера сказала “да”
И это слышала в реке вода
Я прощу а вдруг река
Простить не сможет никогда

Theo tư liệu của
http://www.france-chanson.com/?p=3
http://en.wikipedia.org/wiki/Marie_Lafor%C3%AAt

Tuesday, January 29, 2008

Bí mật của người Nga: uống vodka mà không say

Bí kíp dành cho khách du lịch Mỹ đi đón Năm mới ở Nga


Trên mạng Internet xuất hiện một tư liệu, mà theo tin đồn thì đó là bí kíp được phát cho những người Mỹ đi du lịch Nga trong dịp lễ Năm mới – cẩm nang ứng xử trong lễ hội Nga. Chúng tôi nghĩ rằng bí kíp này cũng rất có ích cho bạn đọc.

“Khả năng uống vodka của người Nga không có nguyên nhân do cấu tạo sinh học đặc biệt của họ. Điều này liên quan đến truyền thống của họ. Người Nga cho rằng người nước ngoài không biết uống – người nước ngoài thì không đụng đến thức nhắm, lại còn trộn rượu thành cooctail; không biết uống vodka, mà lại đi nhấm nháp vodka. Tất cả những thói quen xấu đó là do sự đắt đỏ của rượu và do tính tham lam hà tiện bẩm sinh của người nước ngoài. Dưới đây là các nguyên tắc uống vodka dành cho những người chưa biết


Khoảng một giờ trước khi bắt đầu tiệc (có các phương án khác nhau)

Ăn vài củ khoai tây luộc.

Uống hai quả trứng sống (cái này đảm bảo cho bạn tỉnh táo thậm chí trong trường hợp bạn uống cả chai vodka – nó bảo đảm, chứ không phải chúng tôi).

Uống hai thìa ăn dầu thực vật.


Trong thời gian ăn tiệc

Nếu bạn đã bắt đầu uống vodka thì chỉ uống nó thôi. Đừng có bia hay rượu vang gì hết. Cũng quên nước ép trái cây và nước có ga đi.

Đừng có uống vodka từng chút một, hãy đổ tất cả vào họng và uống một hơi.

Sau khi uống thì hãy ăn đồ nhắm. Cần phải trung hòa cồn ấy mà. Tốt nhất là các món ăn mặn hoặc chua. Có thể là cà chua muối, dưa chuột muối, trứng cá với bánh mì phết bơ, cá trích (селедка) với khoai tây luộc và hành, hoặc là với củ dền luộc và xốt mayonnaise… Nếu chẳng có gì cả thì hãy nhắm bằng thứ salad mà người Nga gọi là olivier (tất cả những đồ ăn gì có trong nhà trộn lại, và trộn với xốt mayonnaise).

Ba cốc vodka đầu tiên là bắt buộc. Bạn tạo ấn tượng cho mọi người rằng bạn là người hòa đồng và dễ chịu. Hai cốc kế tiếp thì có thể bỏ qua. Bạn chỉ cần nói: Ya propuskayu. Điều này không hề có nghĩa là sau đó bạn sẽ không phải uống. Đơn giản là người ta cho phép bạn, một người nước ngoài yếu đuối, được nghỉ ngơi để lấy sức.

Ở Nga thì người ta thường uống tất cả cùng lúc. Trước đó thì người ta tuyên bố lời chúc rượu. Thường thì người ta uống ở bên bàn, trên đó có các cốc rượu, bản thân rượu vodka và đồ nhắm (zakuskis). Người nói lời chúc rượu sẽ rót vodka cho tất cả mọi người. Chứ còn tự rót rượu cho mình và tự uống – là điều bất lịch sự. Nếu bạn muốn tự mình nói lời chúc rượu, thì hãy chịu khó mua ở nhà sách vài quyển sách chuyên môn – có khá nhiều phương án trong đó.

Đồ nhắm (zakuskis) được ăn trong thời gian một tiếng đồng hồ đầu tiên. Trong khoảng thời gian đó bạn sẽ uống hết 200 g vodka, hay là 4 cốc. Sau đó thì người ta sẽ dọn thức ăn nóng (goryacheye) lên, và bạn phải ăn nó, càng nhiều càng tốt. Chỉ bằng cách đó thì bạn mới không sợ say.

Hãy tham gia vào các cuộc nói chuyện thông thái – điều này giữ cho đầu óc trí não trong trạng thái hoạt động. Khi đó thì bạn sẽ không hoàn toàn tỉnh táo đâu, nhưng sẽ không say.

Cuối bữa tiệc thì người ta sẽ đem ra bánh kem và trà. Đừng có bỏ qua món ăn này. Bằng cách đó bạn cho chủ nhà thấy rằng bạn vẫn hoàn toàn tỉnh táo và biết đánh giá lòng mến khách của họ.

Như vậy, trong vòng bốn tiếng đồng hồ, bạn uống hết một chai vodka (500 g), và bạn không những còn sống, mà còn gần như tỉnh táo.

Sau bữa tiệc hãy để một chai bia vào trong tủ lạnh. Đến khoảng 5 giờ sáng hãy uống nó, rồi nằm ngủ tiếp. Điều này sẽ cứu bạn khỏi cơn đau đầu buổi sáng.

Nếu như biện pháp trên không hiệu quả, thì bạn hãy uống nước muối, người Nga thì hay uống nước muối trong các bình ngâm dưa chuột muối hay cà chua muối.

Tóm lại, hãy uống vodka mà vẫn tỉnh táo, như người Nga vẫn làm!

Sunday, January 20, 2008

Trong những ngày vàng vọt

Aleksandr Blok

Giữa những tòa nhà, trong những ngày vàng vọt
Ta nhìn thấy nhau trong một thoáng mà thôi
Ánh mắt em làm tôi cháy bỏng
Ngõ cụt tối đen - em biến đâu rồi...

Nhưng đám cháy lặng thinh của cặp mắt
Nào phải vô tình em tặng cho tôi
Và tôi bí mật trước em quỳ gối
Lời nói dối lặng yên - nào chỉ ngẫu nhiên thôi

Chắc có lẽ, những đêm đông giá lạnh
Sẽ quẳng chúng ta vào dạ hội Sa tăng
Và cuộc đời tôi cuối cùng sẽ đứt
Vì ánh mắt em sắc nhọn tựa dao găm

7-10-1909

Александр Блок

В эти желтые дни меж домами
Мы встречаемся только на миг.
Ты меня обжигаешь глазами
И скрываешься в темный тупик...

Но очей молчаливым пожаром
Ты недаром меня обдаешь,
И склоняюсь я тайно недаром
Пред тобой, молчаливая ложь!

Ночи зимние бросят, быть может,
Нас в безумный и дьявольский бал,
И меня, наконец, уничтожит
Твой разящий, твой взор, твой кинжал!

6 октября 1909

Thursday, January 3, 2008

Cẩm nang gây chiến tranh thế giới

Tác giả: Oleg Khrulev, www.anekdot.ru
Nina dịch

1. Cũng như tất cả mọi việc vĩ đại, chúng ta cần bắt đầu từ việc nhỏ nhất: trở thành tổng thống. Nói chung có rất nhiều cách để làm được việc này, nhưng tất cả đều có hiệu ứng phụ - ảnh hưởng đến sức khỏe tinh thần (tất nhiên nếu như nó có).

2. Tự vinh danh, tức là làm sao cho người ta nói đến bạn càng nhiều càng tốt. Con đường nhanh nhất và hiệu quả nhất là qua các scandal tình ái. Phương pháp Monica Lewinsky có sửa đổi.

3. Sau đó thì cần thiết lập trật tự trong nước. Cái mới – đó là cái cũ đã bị quên. Do đó, cần phải đọc cho dân chúng nghe các câu chuyện cổ tích về việc họ “sống trong đất nước được Chúa chọn”.

4. Bây giờ cần phải khởi động một chút: thử vũ khí, kiểm tra khả năng sẵn sàng chiến đấu của phi công, cho họ luyện tập thực tiễn. Để luyện tập có thể lấy chỗ nào đó ở Tây Á chẳng hạn.

5. Bước tiếp theo là việc lựa chọn nơi bắt đầu chiến tranh thế giới. Trung Âu – đó là phương án thích hợp nhất, đã được kiểm nghiệm nhiều lần.

6. Chọn một quốc gia – thù địch không có vũ khí hạt nhân (để cho mọi chuyện đừng kết thúc nhanh quá), nhưng lại có đồng minh có cái vũ khí này (chứ không thì họ chả có triển vọng gì).

7. Tạo dựng nhân vật phản diện bằng các phương tiện thông tin lạc hướng đại chúng. Ví dụ như tổng thống quốc gia – thù địch chẳng hạn – hoàn toàn phù hợp. Ở đây cần phải lưu ý đừng có tiếc tiền trong việc đánh bóng hình ảnh ác ôn của hắn ta, bởi vì sau đó sẽ có một lý do bào chữa tuyệt vời: “HẮN có lỗi trong mọi chuyện”.

8. Cố gắng bảo vệ giữ gìn (nâng như nâng trứng) cái nhân vật phản diện này nhé, vì việc lăng xê cho nhân vật mới tốn thời gian và tiền bạc lắm.

9. Để có thêm người tham gia chiến tranh thì cần phải có vài lần ném bom nhầm sang nước khác.

10. Sử dụng các động cơ tôn giáo. Ví dụ có thể viết lên bom những dòng chữ kiểu như “Merry Christmas”, “Mừng ngày lễ ramadan”.

11. Nếu như chiến dịch mở rộng chiến tranh có tiến độ quá chậm thì cần phải lôi kéo vào đó một siêu cường hạt nhân nào đó. Có vẻ là việc này khá phức tạp (ném quân từ nơi này sang nơi khác – mệt lắm). Cũng may là có thể chỉ cần tấn công vào đại sứ quán của nước đó thôi (thì đại sứ quán vẫn coi là lãnh thổ của siêu cường kia mà).

12. Điều quan trọng – cần phải tuyên bố rằng “nhiệm vụ” của bạn là gìn giữ hòa bình. Càng nhạo báng chua cay càng tốt – quần chúng thích điều đó mà.

Saturday, December 29, 2007

Đêm giao thừa

ĐÊM GIAO THỪA

Aleksandr Blok

Những màn sương mù lạnh lẽo nằm đây
Những đống lửa cháy đỏ bừng rực rỡ
Svetlana thả tâm hồn băng giá
Vào những ước mơ bí ẩn của cuộc chơi

Tuyết xạo xạc - trái tim thót lại
Rồi mặt trăng yên lặng lại hiện ra
Ngoài cổng có ai đang cười rộn rã
Đường phố tối tăm ngoài phía xa xa

Nào hãy nhìn ra ngày lễ tươi vui
Bước xuống bậc thang, che mặt đi thôi
Ôi phiền quá, những dải băng đỏ tươi
Ồ người thương đang đứng bên nhà rồi...

Nhưng sương mù vẫn không lay chuyển
À, ta chờ lúc nửa đêm buông
Ai đó đang thầm thì, cười nói
Và đống lửa vẫn cháy thâu đêm ...

Tuyết xạo xạc - ở phía xa lạnh lẽo
Tia sáng nào đang tìm đến khẽ khàng
Xe trượt tuyết ai vừa mới chạy ngang ...
"Ai đấy?" - chỉ nghe cười đáp lại...

Và bỗng đâu một cơn bão tuyết
Nhuộm khắp hiên nhà trắng xóa một màu
Cơn bão hay ai đang dịu dàng cười nói
Đã bịt mắt tôi trong bão còn đâu ...

Những màn sương mù lạnh lẽo nằm đấy
Mặt trăng khẽ khàng trườn đến xanh xao
Tâm hồn của Svetlana đang ngẫm nghĩ
Và ngượng ngùng với mơ ước ngọt ngào




НОЧЬ НА НОВЫЙ ГОД
Александр Блок

Лежат холодные туманы,
Горят багровые костры.
Душа морозная Светланы
В мечтах таинственной игры.

Скрипнет снег - сердца займутся -
Снова тихая луна.
За воротами смеются,
Дальше - улица темна.

Дай взгляну на праздник смеха,
Вниз сойду, покрыв лицо!
Ленты красные - помеха,
Милый глянет на крыльцо...

Но туман не шелохнется,
Жду полуночной поры.
Кто-то шепчет и смеется,
И горят, горят костры...

Скрипнет снег - в морозной дали
Тихий крадущийся свет.
Чьи-то санки пробежали...
"Ваше имя?"- Смех в ответ...

Вот поднялся вихорь снежный,
Побелело всё крыльцо...
И смеющийся, и нежный
Закрывает мне лицо...

Лежат холодные туманы,
Бледнея, крадется луна.
Душа задумчивой Светланы
Мечтой чудесной смущена...

Sunday, December 2, 2007

Tặng Malvina Mironovna

Sergei Esenin

Tặng Malvina Mironovna


Trong mắt em
Là những đám mây
Trảng cát màu xanh lục
Ngón tay hờ hững
Vuốt lên tà áo đính ren

Gần đó mà xa,
Luôn luôn thế sao em?
Cuộc đời em buồn
Tôi biết mà bất lực.


Сергей Есенин
Мальвине Мироновне —
=

В глазах пески зеленые
И облака.
По кружеву крапленому
Скользит рука.
То близкая, то дальняя,
И так всегда.
Судьба ее печальная —
Моя беда.
9 июля 1916

Friday, November 2, 2007

Biên đạo múa huyền thoại Igor Moiseev qua đời

N.D. (NuocNga.net)
Theo báo chí Nga


Biên đạo múa huyền thoại Igor Moiseev, người sáng lập và lãnh đạo Đoàn nghệ thuật múa dân gian quốc gia Nga đã qua đời sáng ngày 2/11, thọ 101 tuổi.

Moiseev đã trở thành người đặt nền móng cho một hình thức đặc biệt trong nghệ thuật biên đạo – ông đã đưa điệu múa dân gian đến mức hoàn thiện, đặt điệu múa dân gian ngang hàng với các tác phẩm cổ điển dân gian.

Nghệ sĩ Nhân dân Liên Xô Igor Moiseev sinh ngày 21/1/1906 ở Kiev, sau đó ông cùng gia đình tới Poltava, rồi sau đó tới Matxcơva. Ông theo học lớp múa ba lê của V.I.Masolova, sau đó tại Trường Múa Nhà hát Lớn trong lớp của A.A.Gorsky.

Sau khi tốt nghiệp trường Múa, ông được nhận làm diễn viên solo của Nhà hát Lớn, và ông cũng bắt đầu hoạt động biên đạo của mình ở đây với các vở diễn “Salambo”, “Ba anh béo”, “Spartak”. Tuy nhiên càng ngày folklore càng quyến rũ ông hơn. Igor Moiseev đã viết thư cho Molotov với đề xuất tổ chức đoàn nghệ thuật múa dân gian. Và nhận được câu trả lời: “Đề xuất tốt. Giao cho tác giả thực hiện”. Ngày 10/2/1937 buổi tập đầu tiên của Đoàn nghệ thuật múa dân gian quốc gia Liên Xô đã diễn ra. Và thế là một tập thể nghệ thuật độc nhất vô nhị thế giới ra đời.

Lễ viếng Igor Moiseev sẽ được tổ chức ngày 6/11 tại Phòng hòa nhạc mang tên Traikovsky.

Bài có liên quan

Monday, October 22, 2007

Nữ diễn viên ba lê Nga Avdotia Istomina – một biểu tượng của ba lê Nga

Lưu Hải Hà (NuocNga.net) tổng hợp

Avdotia Istomina – một biểu tượng lãng mạn của ba lê Nga, thần tượng của toàn xã hội Nga nửa đầu thế kỷ XIX, người đã từng được Aleksandr Pushkin ca ngợi trong tác phẩm nổi tiếng “Evgeny Onegin”.
Đẹp rực rỡ, nhẹ bỗng như không khí
Vâng theo lời cây mã vĩ thánh thần…
Đó là những vần thơ của Aleksandr Pushkin viết về “nàng thơ Terpsichore Nga” (Terpsichore – nữ thần của hát đồng ca và vũ điệu trong thần thoại Hy Lạp). Avdotia Istomina – một biểu tượng lãng mạn của ba lê Nga, thần tượng của toàn xã hội Nga nửa đầu thế kỷ XIX. Arapop, một trong những nhà sử học sân khấu Nga đầu tiên đã viết: “Istomina có chiều cao trung bình với mái tóc đen, ngoại hình đẹp, rất cân đối, có đôi mắt đen rực lửa được che bởi hàng mi dài. Hàng mi này khiến cho khuôn mặt của Istomina có một tính cách đặc biệt. Đôi chân mạnh mẽ, sự tự tin trên sân khấu, và cùng với đó là vẻ duyên dáng, nhẹ nhàng trong chuyển động nhanh…”. Istomina là nhân vật chính của nhiều tin đồn tràn ngập xã hội thượng lưu thời bấy giờ, đối tượng hâm mộ và nguyên nhân những cuộc đấu súng của những người lính cận vệ hào nhoáng, là một diễn viên múa tuyệt vời, là người đầu tiên trên sân khấu Nga múa đứng trên mũi chân.

Con gái của một viên chức cảnh sát nghiện rượu Ilya Istomin và bà vợ Anisia mất sớm của ông – đó là tất cả những gì Avdotia biết về gia đình mình. Avdotia Istomina sinh ngày 17/1/1799. Khi lên sáu tuổi, cô bé Istomina được nhận vào Trường Sân khấu Peterburg theo đề nghị của một nhạc công. Đối với một cô bé sinh ra trong một gia đình nghèo không có quan hệ gì với nhà hát thì đó là một thành công lớn. Đunhia Istomina ít tuổi nhất và nhỏ bé nhất trong lớp, chính vi vậy thời gian đầu cô bé gặp rất nhều khó khăn. Những đứa trẻ được học cơ sở các môn phổ cập giáo dục, tiếng Pháp – vốn là ngôn ngữ nền tảng của toàn bộ thuật ngữ ba lê, và tất nhiên là nghệ thuật múa. Istomina gia nhập trường múa vào một thời điểm hết sức thuận lợi – khi đó diễn viên và biên đạo múa nổi tiếng Charles Didlo vừa trở thành hiệu trưởng trường này. Nhiều người trách móc Didlo vì ông quá nghiêm khắc đến khắc nghiệt đối với học trò của mình. Tuy nhiên ông đối xử với họ, như đối với các nghệ sĩ tương lai. Bởi ông biết rằng sự nghiệp nghệ sĩ không dễ dàng chút nào nên Didlo cố gắng phát triển trong họ không chỉ năng khiếu, mà còn cả tính cách của một người nghệ sĩ chân chính – tính kiên định và khả năng làm việc. Avdotia Istomina là một ví dụ rõ ràng về sự đúng đắn và giàu sức sống của trường phái Didlo. “Sự thể hiện các tình cảm và những biến đổi tâm hồn chỉ bằng cử chỉ và nét mặt hiển nhiên đòi hỏi tài năng lớn, và bà Istomina có tài năng này…”

Lần đầu tiên trong đời Istomina bước ra sân khấu năm lên 9 tuổi trong vở ba lê “Zephir và Flora”. Cùng với các nữ diễn viên múa nhỏ tuổi khác khác Istomina đóng vai trong đoàn thị nữ của Flora, họ tiến ra sân khấu trên một con thiên nga lớn. Từ đó Istomina bắt đầu tham gia các vở kịch thường xuyên hơn, thể hiện nhiều vai diễn trẻ em. Sau đó thì Istomina có cơ hội quay trở lại vở ba lê “Zephir và Flora”, tất nhiên không phải với tư cách học viên nữa, mà với tư cách diễn viên múa. Istomina đã lần lượt đóng gần như tất cả các vai trong vở này, và năm 1818 thì Istomina bắt đầu sắm vai Flora. Sự nhẹ nhàng, duyên dáng, và cùng với đó việc truyền đạt tâm hồn cho vũ điệu đã khiến cho Istomina trở thành nữ diễn viên solo lý tưởng cho vở ba lê này.


Avdotia Istomina trong vai Flora

Avdotia Istomina cảm thụ âm nhạc hết sức tinh tế và được tạo hóa ban cho một sắc đẹp rực rỡ. Theo ý kiến của những người cùng thời thì các họa sĩ chân dung đã không truyền đạt được sắc đẹp này.

Năm 1816 Didlo bắt đầu chuẩn bị dàn dựng vở diễn tốt nghiệp cho các học viên – vở “Atsis và Galatei”. Vở ba lê này được công chúng hoan nghênh nhiệt liệt, và nữ diễn viên mới Avdotia Istomina đã dành được cảm tình nồng nhiệt. Trong vở ba lê này Istomina đã thực hiện vài động tác trên mũi chân – người đầu tiên làm điều này trong số các nữ diễn viên múa Nga. Điều này đã làm công chúng rất phấn khích được chứng kiến kỹ thuật hoàn toàn mới trước đó họ chưa thấy. Cùng với sự biểu cảm và hoàn thiện biên đạo của vũ đạo, điều này đã làm cho Istomina trở thành nữ diễn viên múa hàng đầu, không ai vượt qua trong thời đại của mình. Chính sự trình diễn của Avdotia Istomina trong vở ba lê “Acis và Galatea” đã tạo cảm hứng cho Pushkin sau này miêu tả vũ điệu của bà:
…Giữa đám thủy tiên đang đứng quây quần
Chính là Istomina tuyệt diệu
Một chân này chạm hờ sàn gỗ
Còn chân kia quay chầm chậm xung quanh
Và bỗng dưng cú nhảy - nàng bay nhanh
Tựa sợi lông tơ đang được thần gió cuốn
Thân người cong rồi thẳng ra như uốn
Và chân này nhanh chóng đập chân kia…
Nhiều trí thức thời ấy đánh giá rất cao sự giao tiếp với Istomina. Tính nghệ sĩ là bản chất tâm hồn của Istomina và cho nữ nghệ sĩ một sức mạnh quyến rũ lớn. Pushkin rất thích tính cách của bà – linh hoạt, mãnh liệt, ham hiểu biết. Sự cảm thụ nhạy cảm và khả năng cảm thụ những khía cạnh tinh tế nhất của tình cảm không những làm cho những người đối thoại của bà kinh ngạc, mà còn có thể khiến cho Istomina trở thành một nghệ sĩ kịch nói xuất sắc. Chính Istomina đã trở thành người thể hiện đầu tiên vai Cô gái Cherkeshenka trong vở “Người tù Cáp ca dơ” theo tác phẩm cùng tên của Pushkin.

Istomina cũng rất xuất sắc trong các vở ba lê theo chủ đề thần thoại. Ngoài kỹ thuật múa điêu luyện, bà còn có khả năng nhập vai tuyệt diệu, tìm ra những nét mới rực rỡ cho mỗi vai diễn sân khấu của mình. Istomina cũng có khả năng diễn hài rất tốt, như phê bình thời đó viết, bà không chỉ «múa với sự nhanh nhẹn và linh hoạt tuyệt vời, mà còn là một nữ nghệ sĩ ba lê xuất sắc cho những vai diễn ranh mãnh và nhanh nhẹn”. Tài năng này được thể hiện rõ rệt trong vai Lisa trong vở “Sự đề phòng uổng công”. Trong danh mục các vai diễn của Avdotia Istomina các vai diễn hài xem kẽ với các vai dram, lãng mạn và bi kịch. Và trong tất cả các vai diễn này Istomina đều rất thuyết phục nhờ nghệ thuật nhập vai của mình, nhờ khả năng tìm ra những kỹ thuật sân khấu chính xác để thể hiện vai này hay vai khác. Những vai diễn trong các vở ba lê theo tác phẩm của Pushkin là những thắng lợi rực rỡ của Istomina: “Ruslan và Ludmila” và “Người tù Cáp ca dơ”.

Sau cuộc nổi dậy Tháng Chạp ngày 14/12 thì chính quyền nghi ngờ tất cả những gì liên quan tới Những người Tháng Chạp. Mà Istomina lại là nàng thơ cho toàn bộ nhóm thanh niên yêu tự do này. Cho nên dần dần Istomina bị mất tất cả các vai diễn và bị buộc phải từ giã sân khấu. Buổi biểu diễn cuối cùng của Avdotia Istomina diễn ra ngày 30/1/1836. Buổi tối hôm đó không có vở kịch ba lê, và Istomina đã thể hiện một điệu múa Nga để từ giã khán giả.

Sau khi từ giã sân khấu, Istomina lấy nghệ sĩ Paven Ekunin. Bà qua đời vì bệnh tả ngày 26/6/1848. Sau đó một năm báo chí mới đăng lời cáo phó. Và chẳng mấy ai biết được rằng nấm mộ nhỏ bé với bia mộ đơn giản bằng đá hoa cương trắng tại Nghĩa trang ở Okhta Lớn là nấm mồ của nữ nghệ sĩ vĩ đại. Trên bia mộ chỉ có vài chữ đơn giản “Avdotia Ilinhitna Ekunina, nghệ sĩ về hưu”.

Tổng hợp từ các nguồn:
* RIA Novosti
* TV Culture

Thursday, October 4, 2007

Chuyện một lần phóng vệ tinh đã thay đổi thế giới


50 năm ngày phóng vệ tinh nhân tạo đầu tiên 4/10/1957 – 4/10/2007

Von Simone Schlindwein (Spiegel)
Lưu Hải Hà (NuocNga.net) dịch


Vệ tinh chỉ biết kêu bíp bíp – không biết làm gì hơn. Dù vậy, vệ tinh Xô viết đầu tiên đã khiến cả Washington bị sốc. Ở Mỹ không ai nghĩ tới việc vệ tinh này được phóng, mà nói chung thì ở Matxcơva cũng thế thôi.

Chiều ngày 4/10/1957, khi vệ tinh này đang bay vòng thứ hai vòng quanh Trái đất, thì tại buổi hội kiến tại Đại sứ quán Liên Xô tại Washington có mặt vài chục nhà khoa học chuyên về các khoa học Trái đất đến từ nhiều nước khác nhau. Và chưa ai trong số đó biết rằng, vệ tinh mà họ dự định phóng với mục đích nghiên cứu khoa học hiện đã đang bay quanh Trái đất.

Trong buổi chiều thứ sáu hôm ấy các nhà khoa học “đánh dấu” bế mạc một hội thảo được tổ chức nhân dịp Năm Địa vật lý Quốc tế. Từ tháng 7/1957 cho tới tháng 12/1958, trong giai đoạn mặt trời hoạt động tích cực nhất, các nhà khoa học dự định nghiên cứu tác động của hoạt động mặt trời tới từ trường Trái đất từ vũ trụ. Tất nhiên là phải có sự giúp đỡ của vệ tinh.

Trong giai đoạn căng thẳng đó của thời kỳ chiến tranh lạnh, thì một dự án hợp tác khoa học là một sự kiện hết sức đặc biệt. Mà nói chung thì buổi hội kiến long trọng tại Đại sứ quán Liên Xô thì cũng thế thôi – khi đó các nhà khoa học nguyên tử từ hai phía bức màn sắt cùng làm việc để chế tạo loại bom mới và những tên lửa đẩy liên lục địa.

Trong năm 1955 chính quyền Mỹ tuyên bố rằng Mỹ muốn phóng vệ tinh nhân dịp Năm Địa vật lý Quốc tế. Bốn ngày sau đó thì Liên Xô cũng tuyên bố điều này, mặc dù cũng chẳng nói gì cụ thể về những kế hoạch của mình. Tại cuộc hội kiến ở Đại sứ quán, các nhà khoa học hy vọng rằng cuối cùng thì họ cũng có thể biết được điều gì đó về dự án vũ trụ của Liên Xô. Nhưng họ không thể ngờ rằng họ sẽ được biết nhiều điều đến thế.

Cơ hội cho Korolev: hai tên lửa thừa

Thông báo về việc vệ tinh nhân tạo đầu tiên của loài người đã được Liên Xô đưa lên vũ trụ đã làm cho người Mỹ kinh ngạc. Các nhà khoa học Liên Xô thì lúng túng nhận những lời chúc mừng. Đại diện các nhà khoa học Liên Xô – Anatoly Blagonravov buộc phải thừa nhận rằng, quả cầu nhôm nặng gần 84 kg, bán kính 58 cm không đem theo bất kỳ thiết bị khoa học nào, ngoại trừ một cái nhiệt kế và thiết bị phát sóng ngắn.

Vệ tinh chỉ kêu bíp bíp – không biết làm gì hơn. Tuy nhiên tác động chính trị của "chú bé" và những tín hiệu của vệ tinh mà bất kỳ người chơi radio nghiệp dư nào cũng có thể bắt được là hết sức to lớn.

Thậm chí Liên Xô cũng không nghĩ tới một hiệu ứng tương tự, bởi vì họ chỉ nghĩ rằng vệ tinh này là một lối ra nhanh chóng và đơn giản trong tình huống khó khăn lúc bấy giờ. Khi phóng thử tên lửa liên lục địa R-7 thì mô hình đầu đạn hạt nhân thay vì đi tiêu diệt mục tiêu lại bị cháy trong khí quyển – thế là phải làm lại toàn bộ. Khi đó họ chỉ còn có hai tên lửa nữa mà còn phải thử nghiệm, trong lúc các kỹ sư hoàn tất đầu đạn. Và họ đã đưa ra một quyết định hoàn toàn không có trong kế hoạch lúc trước: thay vì phóng tên lửa chỉ để thử nghiệm, thì những tên lửa này còn có thể sử dụng để phóng vệ tinh.

Tuy nhiên thiên thể nhân tạo có trong các kế hoạch này và sẽ được sử dụng để đo từ trường Trái đất, khi đó vẫn còn chưa tồn tại. "Thì Viện Hàn lâm khoa học không kịp chế tạo thiết bị đúng thời hạn, điều thường xuyên xảy ra ấy mà" – ông Boris Chertok, công trình sư hệ thống điều khiển R-7 lúc đó, nay đã 96 tuổi, hồi tưởng lại.

Khi đó Tổng công trình sư Sergei Korolev bèn đề nghị nhanh chóng chế tạo một vệ tinh đơn giản không mang theo bất kỳ thiết bị khoa học nào. Trong trường hợp ngược lại, Chertok nói, quá trình chờ đợi có thể bị kéo dài, và hoàn toàn có thể là khi đó người Mỹ sẽ phóng vệ tinh của mình trước.

Yuri Gagarin và Sergei Korolev.


Chuyện Mỹ đã có thể thắng cuộc chạy đua vào vũ trụ, và tại sao người Nga lại vẫn là những người đầu tiên

Một quyết định y như thế có thể đã được thông qua ở Mỹ - bởi mùa hè năm 1957 trong các cuộc thử nghiệm tên lửa thì các kỹ sư Mỹ đã vượt các đồng nghiệp Nga của mình khá xa. Họ (các kỹ sư Mỹ) chỉ còn việc trang bị thêm tầng trên cùng cho tên lửa, và với sự giúp đỡ của tầng này, như Korolev đề nghị, phóng vệ tinh vào vũ trụ.

Tuy nhiên, khác với Liên Xô, ở Mỹ có hai dự án tên lửa riêng biệt: một dự án quân sự hoàn toàn tuyệt mật, được thực hiện dưới sự chỉ đạo của người Đức Wernher von Braun; và dự án khoa học Vanguard. Khác với tên lửa quân sự Atlas, các kỹ sư Mỹ gặp nhiều khó khăn với tên lửa đẩy Vanguard, mà tên lửa này là tên lửa dự định phóng vệ tinh đầu tiên vào vũ trụ. Đến tận tháng ba năm 1958 thì tất cả các lần phóng thử tên lửa này đều kết thúc thất bại.

Tại bãi thử bí mật ở Kazakhstan mà khi đó vẫn còn chưa được trang bị đầy đủ, mùa hè năm 1957 các kỹ sư tên lửa của Liên Xô bấy giờ cũng gặp những thất bại tương tự. Tên lửa R-7, vốn được thiết kế cho các mục đích quân sự, ban đầu cũng không muốn bay lên. Bảy trong số tám lần phóng tên lửa này trước khi phóng vệ tinh đều kết thúc thất bại. Chỉ có một lần duy nhất, vào tháng tám, tên lửa R-7 đã bay qua rừng tai ga Sibiri và bắn trúng mục tiêu của mình trên bán đảo Kamchatka ở Thái Bình Dương.


Chó Laika bay vào vũ trụ

Tuy nhiên các kỹ sư không thể nào đảm bảo được rằng lần phóng sau tên lửa lại cũng sẽ bay lên. Vì vậy mà dự án phóng vệ tinh vẫn là một dự án tuyệt mật cho tới khi mà vệ tinh vẫn còn chưa được đưa lên quỹ đạo gần Trái đất. Nhưng cả Khrushchev lẫn Korolev đều không thể ngờ rằng việc phóng vệ tinh thành công sẽ gây nên cơn sốc thật sự ở Mỹ. Tờ New York Times đăng thông báo về việc phóng vệ tinh ngay trên trang đầu.

Khi Khrushchev nhận được báo cáo đầy đủ về phản ứng của Mỹ, ông gọi Korolev tới gặp – Chertok kể lại. Thực sự, bây giờ chúng ta không cần bom khinh khí nữa. Nhờ phóng cái vệ tinh vô hại này mà chúng ta đã nhận được còn nhiều hơn so với việc thử bom khinh khí, Tổng Bí thư Nikita Khrushchev nói với Korolev.


Sản phẩm của một người nhiệt tình ngoan cường


Người ta dự định phóng vệ tinh thứ hai vào khoảng thời gian gần ngày kỷ niệm Cách mạng tháng Mười. Tuy nhiên phóng một vệ tinh trống không như lần trước thì rõ ràng không có ý nghĩa gì, Chertok nói. Chính vì vậy mà xuất hiện ý tưởng đưa một chú chó vào vũ trụ. Người công trình sư này cười và kể rằng hồi đó họ còn không có cả bản vẽ kỹ thuật. Tổng công trình sư Korolev chỉ đạo trực tiếp cho các kỹ sư trong các phân xưởng – cái gì gắn vào đâu.

Ngày 3/11/1957 chú chó Laika bay vào vũ trụ - và Liên Xô lại tận hưởng hương vị thành công ngọt ngào. Chỉ mãi sau này công chúng mới được biết rằng Laika không sống trên quỹ đọa lâu hơn một tuần.

Cho tới tận ngày nay các kỹ sư tên lửa Nga và các nhà sử học các chuyến bay vũ trụ đều thừa nhận rằng Liên Xô đã vượt Mỹ và bay vào vũ trụ đầu tiên trước hết là nhờ có người nhiệt tình ngoan cường Korolev. "Cái chất của Korolev năm 1966 đã trở thành một cú đánh quá nặng đối với chúng tôi" – Chertok nói. Người phó của ông, Vasily Mishin lên thay chỗ của Korolev là một kỹ sư rất tài năng. "Nhưng anh ấy không có tài lãnh đạo của Korolev. Cũng như không có được ảnh hưởng tới các nhà lãnh đạo, tương tự như ảnh hưởng mà Korolev có".